Nghị định mới về kiểm soát thủ tục hành chính
- Thứ bảy - 10/10/2026 06:06
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Ngày 09/10/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 385/2026/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/10/2026. Nghị định quy định việc kiểm soát quá trình xây dựng, thực hiện, rà soát, đánh giá thủ tục hành chính và quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính.
Theo Nghị định, kiểm soát thủ tục hành chính phải được thực hiện ngay từ khi đề xuất chính sách, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và tiến hành thường xuyên trong quá trình tổ chức thực hiện. Các quy định phải bảo đảm đơn giản, minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian và chi phí; gắn với chuyển đổi số, kết nối, chia sẻ, tái sử dụng dữ liệu và nguyên tắc chỉ cung cấp thông tin một lần.
Một nội dung đáng chú ý là yêu cầu đánh giá khả năng thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử ngay trong quá trình xây dựng quy định. Đối với những thủ tục có khả năng tạo rào cản gia nhập thị trường, hạn chế cạnh tranh hoặc ảnh hưởng đến lợi ích công cộng, cơ quan chủ trì phải đánh giá tác động về bảo đảm cạnh tranh, quản lý rủi ro theo từng trường hợp được quy định.
Các thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ đều phải được công bố, công khai đầy đủ, chính xác, kịp thời. Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính là nguồn thông tin chính thức, có giá trị pháp lý để làm căn cứ công khai và áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Nghị định cũng điều chỉnh thủ tục hành chính nội bộ liên quan từ hai cơ quan hành chính nhà nước trở lên hoặc được ban hành để áp dụng chung cho các cơ quan hành chính nhà nước.
Trong giải quyết hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền không được tự đặt thêm thủ tục, hồ sơ, giấy tờ ngoài quy định; phải nêu rõ lý do bằng văn bản khi từ chối thực hiện hoặc yêu cầu bổ sung giấy tờ. Kết quả giải quyết được cung cấp bằng hình thức điện tử; trả bản giấy khi tổ chức, cá nhân yêu cầu hoặc pháp luật có quy định.
Việc rà soát, đánh giá thủ tục hành chính phải dựa trên thông tin, dữ liệu và kết quả thực tiễn, lấy mức độ hài lòng, khả năng tiếp cận và chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp làm căn cứ đánh giá. Ưu tiên rà soát các thủ tục có nhiều hồ sơ, chi phí lớn, thời gian giải quyết kéo dài, nhiều phản ánh, kiến nghị, có khả năng liên thông, điện tử hóa hoặc không phát sinh hồ sơ trong 03 năm liên tiếp. Kết quả rà soát là cơ sở đề xuất đơn giản hóa, sửa đổi hoặc bãi bỏ những quy định không còn phù hợp.
Kể từ ngày Nghị định số 385/2026/NĐ-CP có hiệu lực, các Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, số 48/2013/NĐ-CP và số 92/2017/NĐ-CP hết hiệu lực thi hành.
Xem chi tiết Nghị định số 385/2026/NĐ-CP tại đây./.
Một nội dung đáng chú ý là yêu cầu đánh giá khả năng thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử ngay trong quá trình xây dựng quy định. Đối với những thủ tục có khả năng tạo rào cản gia nhập thị trường, hạn chế cạnh tranh hoặc ảnh hưởng đến lợi ích công cộng, cơ quan chủ trì phải đánh giá tác động về bảo đảm cạnh tranh, quản lý rủi ro theo từng trường hợp được quy định.
Các thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ đều phải được công bố, công khai đầy đủ, chính xác, kịp thời. Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính là nguồn thông tin chính thức, có giá trị pháp lý để làm căn cứ công khai và áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Nghị định cũng điều chỉnh thủ tục hành chính nội bộ liên quan từ hai cơ quan hành chính nhà nước trở lên hoặc được ban hành để áp dụng chung cho các cơ quan hành chính nhà nước.
Trong giải quyết hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền không được tự đặt thêm thủ tục, hồ sơ, giấy tờ ngoài quy định; phải nêu rõ lý do bằng văn bản khi từ chối thực hiện hoặc yêu cầu bổ sung giấy tờ. Kết quả giải quyết được cung cấp bằng hình thức điện tử; trả bản giấy khi tổ chức, cá nhân yêu cầu hoặc pháp luật có quy định.
Việc rà soát, đánh giá thủ tục hành chính phải dựa trên thông tin, dữ liệu và kết quả thực tiễn, lấy mức độ hài lòng, khả năng tiếp cận và chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp làm căn cứ đánh giá. Ưu tiên rà soát các thủ tục có nhiều hồ sơ, chi phí lớn, thời gian giải quyết kéo dài, nhiều phản ánh, kiến nghị, có khả năng liên thông, điện tử hóa hoặc không phát sinh hồ sơ trong 03 năm liên tiếp. Kết quả rà soát là cơ sở đề xuất đơn giản hóa, sửa đổi hoặc bãi bỏ những quy định không còn phù hợp.
Kể từ ngày Nghị định số 385/2026/NĐ-CP có hiệu lực, các Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, số 48/2013/NĐ-CP và số 92/2017/NĐ-CP hết hiệu lực thi hành.
Xem chi tiết Nghị định số 385/2026/NĐ-CP tại đây./.