Nghị định số 234/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Hoàn thiện quy định về xử lý kỷ luật viên chức

Thứ tư - 01/07/2026 21:02 95 0
Ngày 26/6/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 234/2026/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật viên chức. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, tạo cơ sở pháp lý thống nhất trong việc xem xét, xử lý các hành vi vi phạm của viên chức, góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm trong hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.
Nghị định số 234/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Hoàn thiện quy định về xử lý kỷ luật viên chức

Nghị định gồm 05 chương, 26 điều, quy định đầy đủ về nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật viên chức; các hình thức kỷ luật; thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật; việc xử lý đối với viên chức quản lý, viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu; cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tổ chức thực hiện.
Một số điểm nổi bật của Nghị định:
(1) Nguyên tắc xử lý kỷ luật
Việc xử lý kỷ luật phải bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh, chính xác, kịp thời, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trường hợp cùng một thời điểm xem xét kỷ luật mà viên chức có từ hai hành vi vi phạm trở lên thì xem xét từng hành vi nhưng quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật cao nhất, không tách riêng từng hành vi để kỷ luật nhiều lần.
Trường hợp viên chức đang trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật mà tiếp tục có hành vi vi phạm thì sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn theo quy định. Khi xem xét xử lý kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, thái độ tiếp thu, sửa chữa và kết quả khắc phục hậu quả. Không áp dụng hình thức xử phạt hành chính thay cho kỷ luật hành chính; xử lý kỷ luật hành chính không thay cho truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi vi phạm đến mức bị xử lý hình sự.
Đối với viên chức bị xử lý kỷ luật Đảng, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật Đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải xem xét xử lý kỷ luật hành chính, trừ trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật theo quy định. Hình thức kỷ luật hành chính phải bảo đảm tương xứng với kỷ luật Đảng; trường hợp thay đổi hình thức kỷ luật Đảng thì phải điều chỉnh hình thức kỷ luật hành chính tương ứng.
Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, tinh thần, danh dự, nhân phẩm trong quá trình xử lý kỷ luật. Viên chức đã bị xử lý kỷ luật mà trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày quyết định có hiệu lực tiếp tục vi phạm cùng hành vi đã bị kỷ luật thì bị coi là tái phạm. Quyết định xử lý kỷ luật có hiệu lực 12 tháng; nếu trong thời gian này viên chức không tiếp tục có hành vi vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định đương nhiên chấm dứt hiệu lực.
Các tài liệu liên quan đến việc xử lý kỷ luật phải được lưu giữ trong hồ sơ viên chức; quyết định kỷ luật được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật và hình thức kỷ luật phải được ghi vào lý lịch viên chức.
Viên chức có hành vi vi phạm trong thời gian công tác tại cơ quan, đơn vị cũ nhưng đến khi chuyển công tác mới được phát hiện thì cơ quan, đơn vị mới có thẩm quyền xem xét xử lý kỷ luật theo quy định. Đồng thời, không được cử vợ, chồng, cha mẹ, con, anh chị em ruột và những người thân thích khác của người bị xem xét kỷ luật hoặc người có quyền, nghĩa vụ liên quan tham gia Hội đồng kỷ luật hoặc chủ trì cuộc họp kiểm điểm.
(2) Nghị định quy định 4 hình thức kỷ luật viên chức gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (áp dụng đối với viên chức quản lý) và buộc thôi việc.
Viên chức bị kỷ luật bằng một trong các hình thức trên còn bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan.
Viên chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; viên chức quản lý phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ được bổ nhiệm.
(3) Các hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật gồm: vi phạm quy định của Đảng và pháp luật liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ theo vị trí việc làm; vi phạm các quy định về nghĩa vụ của viên chức, những việc viên chức không được làm; vi phạm đạo đức nghề nghiệp, văn hóa giao tiếp ở công sở, giao tiếp với Nhân dân; vi phạm nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Hành vi vi phạm được xác định theo ba mức độ hậu quả: ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng.
(4) Các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật gồm: viên chức đang điều trị bệnh hiểm nghèo, mất khả năng nhận thức hoặc ốm nặng điều trị nội trú; viên chức nữ đang mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc viên chức nam trong trường hợp đặc biệt đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi; viên chức đang bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền; các trường hợp theo Nghị quyết của Quốc hội về xử lý vi phạm đất đai và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Xem nội dung chi tiết Nghị định số 234/2026/NĐ-CP tại đây./.

Tác giả bài viết: Phạm Thị Thuý Hằng - P.CCVC

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây